Ếch con giống ngã năm sóc trăng

1,200 1,000

Ếch con giống Út Kiểm

Đc: Khóm Vĩnh Bình, Phường 3, TX Ngã Năm Tỉnh Sóc Trăng

ĐT: 0353.253.437 – 0976.524.147 (Gặp Út Kiểm)

Mua số lượng từ 300 con được free ship. Số lượng từ 2.000 được giới thiệu đầu ra.

HOTLINE: 0939.693.654 - 02993.524.456
Mô tả

Mô tả

Giới thiệu

Đã từ lâu cơ sở sản xuất ếch giống ÚT KIỂM, cung cấp ếch thịt, cung cấp ếch bố mẹ và chia sẻ kinh nghiệm nuôi ếch trên toàn quốc. Phương trâm của trại ếch ÚT KIỂM là:”Chia sẻ thành công – Nâng cao đời sống”.

Từ khi thành lập trại ếch ÚT KIỂM đã trở thành một người bạn cung cấp cho bà con các loại giống ếch tốt, chất lượng cao, sạch bệnh và thích nghi tốt với môi trường khu vực miền Tây Nam BỘ. Trại ếch ÚT KIỂM luôn kết hợp với người chăn nuôi để tạo ra những con ếch khỏe mạnh, đạt tỷ lệ cao đồng thời trại ếch sẽ giới thiệu cho bà con đầu ra với số lượng lớn. Vậy nên bà con hãy tập trung vào chăn nuôi mà không cần lo tìm đầu ra. Để có một sự khởi đầu tốt nhất cho vụ nuôi trồng mới bà con hãy đến với trại ếch ÚT KIỂM để có được nguồn giống tốt nhất và được các kỹ sư tư vấn tận tình trong quá trình nuôi ếch!

I.Các mô hình nuôi ếch

1. Nuôi ếch trong bể xi măng

– Mật độ nuôi: 80 con -> 100 con/m2
– Hồ xây cao khoảng 90cm.
– Diện tích khoảng 15m2 đến 20m2 là vừa, xây lớn quá khó thay nước. Hồ có chiều ngang 3m chiều dài 5m hoăc 7m. Độ nghiêng đầu này với đầu kia là 2cm. Có người hỏi tôi tại sao độ nghiêng nhỏ quá? với độ nghiêng này chúng ta mới nuôi được 100 con/m2, làm độ nghiêng cao hơn thì một đầu nước ngập nửa thân ếch thì đầu kia ếch bị hụt chân sẽ bơi lên chỗ cạn hơn nên diện tích sử dụng thì mất đi thì làm sao nuôi mật độ cao được. Đó là độ nghiêng của chiều dài còn chiều ngang ta làm nghiêng vào giữa hồ khoảng 1cm. Giữa hồ vét một rảnh theo chiều dài của hồ để đặt ống thoát nước bằng chiều dài của hồ, rảnh này khi đặt ống thoát vào thì ống thoát phải ngập tức mặt trên ống thấp hơn đáy hồ 1cm, trêm ống dùng mũi khoan 1cm khoan nhiều lổ để ếch có nằm trên lổ này thì còn lổ khác thoát nước. Làm thoát nước kiểu này tốn thêm ống nước nhưng hiệu quả thoát nước thì tuyệt vời. Còn tiết kiệm làm một lổ cuối hồ thì khi sổ nước ếch tụ lại thì nước không chảy được.
– Mô hình này có nhượt điểm là:
+ Chi phí xây hồ cao,
+ Độ thông thoáng thấp
+ Tỉ lệ tiêu tốn thức ăn cao khoảng 1.5 kg thức ăn được 1kg ếch thịt.
+ Ếch hay bị trầy da
+ Ếch chậm lớn hơn nuôi trong vèo, nuôi khoảng 3 tháng mới đạt trọng lượng 5 con/kg
– Tôi cải tiến lại mô hình nay như hình bên dưới:

– Chúng ta chỉ cần xây hai lớp gạch rồi trải bạt lên, hồ ngang 3m dài 5m thì dùng bạt ngang 4m dài 6m ta cuốn bạt lên xung quanh 40cm tính từ đáy hồ để chiều tối ếch không nhảy tìm đường thoát ra ngoài. từ mép bạt lên trên 50 cm ta dùng lưới mịn ( loại người ta dùng để trồng rau sạch ) quay xung quanh. Làm như vậy thì rẻ tiền hơn, độ thông thoáng cao hơn hồ ở trên, ếch không bị trầy da. nhượt điểm lài bạt và lưới thì dùng khoảng 2 năm sẽ hư.
– Nâng mức nước lên bằng hai viên gạch, bên trong bỏ đệm lót cho ếch leo lên ăn uống và nghỉ ngơi. Nuôi mô hình này thì rút ngắn thời gian nuôi còn 2 tháng đạt 5 con/kg, tỉ lệ tiêu tốn thức ăn 1.2kg được 1kg ếch thịt
– Đệm lót như hình bên dưới:

2. Nuôi Ếch Trong Vèo (Tráng):

– Đây là mô hình nuôi mang lại hiệu quả cao nhất hiện nay, vì ta nuôi thêm được cá trê, rô phi, rô đồng .v.v mà không cần cho cá ăn, cá sẽ ăn thức ăn dư thừa và da ếch.
– Một số nơi người ta đóng vĩ tre bỏ vào trong vèo cho ếch nằm thì có nhượt điểm là lâu ngày vĩ tre ngấm nước khi thu hoạch phải lấy vĩ tre ra rất nặng nhọc, nhượt điểm nữa là mật độ nuôi thấp. Tôi khắc phục những nhượt điểm này bằng cách thay vĩ tre bằng đệm lót cao su. Đệm lót cao su đặt dưới đáy vèo nên nuôi mật độ như trên hồ lót bạt.
– Ưu điểm của mô hình này là:
+ Không mất công thay nước hàng ngày nên tiết kiệm tiền điện.
+ Một công có thể nuôi 100,000 con, vì ta chỉ cho ăn thôi.
+ Ếch lớn nhanh, ít bệnh, tỉ lệ tiêu tốn cho 1kg ếch thịt là 1.2kg thức ăn.
+ Nuôi thêm cá nên hiệu quả kinh tế cao.
+ Vèo thì rẻ tiền hơn xây hồ rất nhiều.
– Nhượt Điểm là chỉ nuôi được ở những vùng có ao hồ nước ra vào, sông lớn.
3. Các Mô Hình Khác:
– Ngoài hai mô hình trên còn có mô hình nuôi ếch trong ao đất, nuôi trong chai nhựa, nuôi trong vỏ xe, nuôi trong thùng xốp. Những mô hình này để nuôi chơi chứ không triển khai qui mô được nên tôi không trình bài chi tiết. Nếu bà con muốn biết thì gọi điện tôi sẽ tư vấn.
II. Bệnh Ếch Và Biện Pháp Phòng Trừ:
– Trong phần này tôi chỉ nói về cách phòng và trị bệnh, còn nguyên nhân thì từ yếu tố môi trường là chính. Nước dơ, nuôi mật độ quá cao, thức ăn ôi thiu là những tác nhân tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và gây bệnh cho ếch.
– Biện pháp phòng bệnh chung là khắc phục những điều tôi vừa nói ở trên, ngoài ra trong quá trình nuôi ta bổ sung thêm vitamin C, men tiêu hóa để tăng sức đề kháng cho ếch thì ếch ít bị bệnh tật. Sau đây là một số bệnh thường gặp.
1. Bệnh Gan Thận Mủ:

– Khi ếch bị chết, mổ bụng thấy gan, thận ếch có những đốm trắng nhỏ như mụn mủ. Bệnh này thường xảy ra đối với ếch từ một tháng tuổi trở lên. Bệnh này có thể gây chết 90% ếch trong đàn. Bệnh gan thận mủ hiện nay xuất hiên trên tôm, cá tra rất phổ biến. Nuôi ếch bằng nước giếng thì ít bị bệnh này, nuôi bằng nước sông gần khu trồng lúa, hoa màu thì xuất hiện bệnh này nhiều hơn có thể do tồn dư hóa từ đồng ruộng làm hại gan, thận. Nguyên nhân thứ hai là từ thức ăn công nghiệp, trong thức ăn có chứa chất tăng trọng, chất bảo quản.
– Bệnh này chỉ xuất hiện trên ếch từ 3 tháng tuổi trở lên.
– Thuốc dùng chữa bệnh này bà con nên mua thuốc có thành phần chính là Flophenicol, các thuốc khác con vi khuẩn đã kháng thuốc trị không hiệu quả.
– Phương pháp chữa bệnh là làm ẩm thức ăn rồi trộn thuốc vào để khô lại rồi cho ếch ăn nếu trường hợp ếch còn ăn mạnh. Trường hợp ếch không ăn thì hòa tan thuốc rồi ngâm ếch vào trong nước đó, chữa bằng cách này thì tốn thuốc rất nhiều mà hiệu quả cũng không cao lắm. Liều dùng thì bà con dùng gấp 1.5 lần theo hướng dẫn của nhà cung cấp, thời gian trị khoảng 7 ngày. Khi kết thúc thời gian trị bệnh thì trộn VitaminC và men tiêu hóa để ếch phục hồi sức khỏe nhanh hơn.
– Để ngăn ngừa bệnh thì trộn thuốc giải độc gan cho ăn định kỳ cứ 10 ngày thì cho ăn 2 ngày, lưu ý khi còn 15 ngày xuất bán thì không nên dùng thuốc để tránh ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
2. Hội chứng Bệnh Viêm ruột, mù mắt một bên, quẹo cổ:
 

– Những triệu chứng này có thể xuất hiện cùng một lúc hoặc riêng lẻ, bệnh xuất hiện
do môi trường bất lợi như gặp sương muối, trời nắng nhiều ngày rồi mưa lại, bệnh xảy ra nhiều lúc đầu mùa đến khoảng tháng 7 thì giảm dần. bệnh này cũng lây lan rất nhanh và hao hụt nhiều và xảy ra trên mọi lứa tuổi.
– Trị Bệnh này bà con dùng thuốc Ampicilline, hoặc thuốc M1 của thái lan để trị, liều dùng cũng tăng 1.5 lầ, dùng liên tục 7 ngày. Khi kết thúc điều trị thì cũng trộn Vitamin C và Men tiêu hóa như trên.
3. Bệnh Sình Bụng:

– Bệnh này xuất hiện trên cả nòng nọc và ếch ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân là do thức ăn ôi thiu, nước dơ.
– Phòng bệnh này bà con trộn men tiêu hóa vào thức ăn cho nòng nọc, ếch ăn theo định kỳ cứ 2 ngày 3 ngày cho ăn một lần.
4. Bệnh Đỏ Chân:

– Bệnh này chỉ xuất hiện trên ếch và ở mọi lứa tuổi còn nòng nọc chưa có chân nên không bị. Bệnh xuất hiện khi thời tiết không thuận lợi, nước dơ.
– Trị bệnh này cũng dùng Ampicilline hoặc thuốc Gentacin của thái, liều dùng cũng giống như các bệnh ở trên.
5. Bệnh Ghẻ Lở:

– Ếch hay cắn nhau làm trầy da sinh ghẻ.
– Phòng hiện tượng này thì nuôi mật độ hợp lý, cho ăn đủ và cho ăn nhiều lần trong ngày.
– Trị bệnh thì ngâm ếch trong thuốc sát trùng như Iodine, BKC v.v. cũng có thể dùng thêm Ampicilline cho ếch ăn sẽ nhanh lành vết thương hơn.

Trên đây là những bệnh thường gặp mà tôi biết, kể ra thì thấy sợ nhưng nếu trong quá trình nuôi chúng ta đảm bảo nguồn nước sạch, thức ăn không bị ôi thiu, mốc, độ đạm phù hợp với từng lứa tuổi thì hầu như ếch không bị bệnh và rất nhanh lớn. Để giảm được những bệnh tật ở trên mời bà con xem phần nuôi ếch không thay nước.

 

Kỹ thuật nuôi ếch

1. Các hệ thống nuôi ếch thương phẩm

Nuôi ếch trong các ao đất
Nuôi ếch trong giai, lồng bè
Nuôi ếch trong các bể xi măng, bể lót bạt

2. Chọn lựa địa điểm
– Vườn hoặc ao có diện tích từ 50m2 trở lên;
– Có nước sạch chủ động;
– Có tường gạch bao quanh; Có hang trú ẩn cho ếch.
– Bờ ao, mương trồng cây xanh tạo bóng mát;
– Mặt nước thả bèo tây hoặc rau muống chiếm 2/3 diện tích ao.

3. Chuẩn bị và cải tạo hệ thống nuôi
a/ Ao đất
– Ao nuôi có diện tích từ 50 – 300 m2 trở lên, độ sâu ao 0,5- 1 m. Tường hoặc lưới rào phải cách bờ ao một khoảng từ 1 – 1,5 m. Ao nuôi chủ động cấp tháo nước trong quá trình nuôi.
– Tháo nước bắt hết cá tạp, cá dữ, vét bù đáy ao.
– Bón vôi liều lượng 7 – 10kg/100 m2, phơi nắng từ 2 – 4 ngày sau đó tiến hành cấp nước vào ao.
*    Một số điểm cần lưu ý trong quá trình cải tạo ao nuôi
– Ao không nhiễm phèn hoặc mức độ nhiễm rất thấp
– Chất lượng nước phải thật tốt, sạch và không nhiễm độc chất từ bên ngoài.
– Đăng lưới bảo vệ phía trên và xung quanh ao. Hạn chế ánh sáng trực tiếp.
b/ Giai, lòng bè
Giai có kích thước 6 – 50 m 2, có đáy treo trong ao (2×3, 4×5, 5x10m). Chiều cao 1 – 1,2m. Do giai đặt trong ao nên cũng cần được cải tạo như nuôi ao.
Vật liệu: Tre hay những thanh gỗ, lưới mùng hoặc lướt nylon. Giai có nắp đậy để tránh ếch nhảy ra và bị chim, rắn ăn.
c/ Trong bể xi măng hay bể lót bạt
Bể có diện tích trung bình 6 – 30 m2 (2×3, 2×5, 3×5, 4×6, 5x6m), độ cao 1,2 – 1,5m để tránh ếch nhảy ra. Đáy ao nên có độ nghiêng khoảng 5o để dễ thay nước. Nên che lưới nylon trên bể để tránh nắng trực tiếp và làm tăng nhiệt độ (có thể sử dụng lưới lan). Không nên che mát hoàn toàn bể nuôi. Mực nước trong ao khống chế ngập 1/2 – 2/3 thân ếch. Nên thường xuyên phun nước tưới ếch nhất là vào lúc trưa nắng.
Cách xử lý bể nước mới xây: bơm nước vào đầy bể, dùng thuốc tím 5 g/m3 cho vào bể ngâm nhằm khử nước xi măng trong thời gian khoảng 15 – 20 ngày, sau đó xả hết nước trong bể, chùi rửa sạch sẽ, tiếp tục bơm nước vào bể khoảng 40 – 50 cm chiều cao, dùng muối ăn theo tỷ lệ 20 – 30g/1m2 nước. Sau 2 ngày thải nước đó, cho nước sạch vào để thả ếch giống vào bể nuôi.
d/ Chuẩn bị giá thể
Các giá thể thường dùng trong nuôi ếch: Lục bình, rau muống (nuôi ao), tấm nhựa nổi, bè tre, tấm nylon đục lỗ….nhằm giúp ếch lên bờ cư trú và tìm thức ăn. Giá thể không vượt quá 1/3 – 1/2 hệ thống nuôi.

4. Chọn giống – thả giống – mật độ
a/ Chọn giống
– Chọn ếch giống to khoẻ, đều cỡ.
– Hoạt động nhanh nhẹn.
– Màu sắc tươi sáng và sắc nét.
– Không bị dị tật, dị hình.
b/ Vận chuyển – thả giống
Chọn ngày trời mát, nhiệt độ không khí dưới 300C, ếch giống vận chuyển bằng sọt, rổ tre, lồng (có lót nylon) hoặc thùng, chậu, túi vải trong có 1 ít rong, bèo.
Thả ếch giống được tắm nước nuối 3%, trong khoảng l – 2 phút. Trước khi thả phải qua giai đoạn thuần nhiệt như sau: Thả túi chứa ếch xuống ao 15 – 20 phút, cho nước vào từ từ và thả ra ao. Nên thả ở đầu gió.
c/ Mật độ thả
Ếch giống kích cỡ 100 – 200 con/kg. Mật độ thả như sau:
Tháng thứ 1:
Nuôi ếch trong các ao đất: 60 – 80 con/m2.
Nuôi ếch trong giai, lồng bè: 150 – 200 con/m2.
Nuôi ếch trong các bể xi măng: 150 – 200 con/m2.
Tháng thứ 2: 100 – 150 con/m2.
Tháng thứ 3: 80 – 100 con/m2.

5. Thức ăn cung cấp
Ếch sử dụng một số loài thức ăn tận dụng nguồn thức ăn sẵn có như: Giun, tép, ốc tôm, cá con, cua, châu chấu, cào cào…., ếch còn ăn các loại cám gạo, bột ngô, bột ngũ cốc trộn với cá, tôm, tép, lươn, chạch…
Thức ăn viên: Tại Việt Nam chưa có thức ăn chuyên cho ếch. Có thể sử dụng thức viên nổi cho cá da trơn hay cá rô phi của các công ty như: PROCONCO, CARGILL, BLUE STAR, UNIPRESIDENT, C.P, LÁI THIÊU… Thức ăn viên nổi có kích cỡ và hàm lượng đạm (protein) thay đổi theo kích cỡ hay tuổi của ếch nuôi. Hàm lượng protein trong thức ăn dao động từ 22 – 35 % (37 %).
Giai đoạn 3 ngày tuổi (Thức ăn tự nhiên, tươi sống và 35, 37 % đạm)
Giai đọan 15 ngày tuổi (Thức ăn có 35 % đạm)
Giai đọan 45 ngày tuổi (Thức ăn có 30 % đạm)
Giai đọan 90 ngày tuổi (Thức ăn có 25 % đạm)
Giai đọan nuôi thương phẩm (Thức ăn có 22 % đạm)

6. Chăm sóc – quản lý
a/ Chăm sóc
Lượng cho ăn điều chỉnh hàng ngày tùy theo sức ăn của ếch. Có thể cho ăn theo bảng sau:
+ 7 – 10% trọng lượng thân (ếch 3 – 30g)
+ 5 – 7% trọng lượng thân (ếch 30 – 150g)
+ 3 – 5% trọng lượng thân (ếch trên 150g)
Số lần cho ăn:
– Ếch (3 – 100g): Cho ăn 3 – 4 lần/ngày. Chiều tối và ban đêm cho ăn nhiều hơn.
– Ếch trên 100g: Cho ăn còn 2 – 3 lần/ngày.
Ếch ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm hơn ban ngày (lượng thức ăn vào chiều tối và ban đêm gấp 2 – 3 lượng thức ăn ban ngày). Định kỳ bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khỏe và tiêu hoá tốt thức ăn.
b/ Quản lý
– Sau khi thả nuôi 7 – 10 ngày phải kiểm tra lựa nuôi riêng những con ếch lớn vượt đàn để tránh sự ăn lẫn nhau. Khi ếch đạt trọng lượng 50 – 60 gam sự ăn nhau giảm.
– Nước cung cấp, điều tiết cho hệ thống nuôi phải sạch (nước sông, nước giếng, nước ao).
– Mỗi ngày tắm cho ếch nuôi ít nhất 2 lần.
– Mức nước cần được duy trì 0,2 – 0,5 m (không để mức nước quá sâu, do ếch bị ngộp không lên cạn được hay quá cạn làm tăng nhiệt độ)
– pH nước: 6 – 9 (pH không vượt quá 11 và nhỏ hơn 4 sẽ gây chết ếch).
– Ammonia (NH3): không vượt quá 0,02 mg/L.
*    Điểm đặc biệt lưu ý
Sau khi tắm và vệ sinh hệ thống nuôi ếch sạch xong mới cho ếch ăn
Thời tiết ấm, ếch ăn thức ăn nhiều.
Khi thay đổi thức ăn phải thay đổi từ từ giữa các giai đọan

7. Tăng trưởng ếch nuôi thương phẩm
Tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn: Sử dụng thức ăn viên nổi, trọng lượng ếch sau thời gian nuôi:
30 ngày nuôi: 30 – 50gam
60 ngày nuôi: 100 – 120gam
90 ngày nuôi: 150 – 180gam
120 ngày nuôi: 200 – 250gam
Hệ số thức ăn (Lượng thức ăn cho 1kg ếch tăng trọng) đối với thức ăn viên nổi: 1,2 – 1,3: Nuôi trong ao; 1,3 – 1,5: Nuôi trong bể ximăng, giai.

8. Thu hoạch
Sau thời gian nuôi 3 – 4,5 tháng, trong lượng ếch đạt bình quân 6 – 7 con/kg đối với ếch đồng và nuôi 2 – 3 tháng, trong lượng ếch đạt bình quân 6 – 7 con/kg đối với ếch Trung Quốc và ếch Thái, tiến hành thu hoạch. Trước khi thu hoạch phải dừng cho ăn 1 ngày, thu vào lúc chiều mát hay tắm cho ếch trước khi thu hoạch. Dùng vợt, lưới 2 hoặc 3 (dụng cụ thu hoạch phải trơn, nhẵn) để thu hoạch. Êch thịt vận chuyển dụng cụ lớn hơn, thiết kế nhiều tầng, không chồng đè lên nhau, thoáng và giữ được độ ẩm bão hoà.

Kỹ thuật nuôi ếch thương phẩm

I.ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC:

1. Phân bố:

Ếch là động vật lưỡng cư sống được cả trên cạn và dưới nước, ếch có khả năng hô hấp bằng phổi và qua da. Ếch phân bố khắp nơi ao hồ, đồng ruộng, sông ngòi, những nơi ẩm ướt và có nguồn nước ngọt.Thịt ếch trắng hồng, dai, thơm ngon là nguồn cung cấp đạm rất tốt cho con người.

2. Dinh Dưỡng:

Trong tự nhiên, ếch là loài ăn động vật sống, con mồi phải di động như các loài côn trùng, giun, ốc, cá con, tép… Trong điều kiện nuôi sử dụng được thức ăn công nghiệp.

3. Sinh trưởng:

Ếch đồng: nuôi từ cỡ ếch giống 3-5g/con, sau 1 tháng có thể đạt 25-30g/con, 3-4 tháng thành ếch thương phẩm cỡ 80 – 100g/con. Sống ngoài tự nhiên ếch 1 tuổi, con cái nặng 60g, con đực nặng 50g.

Ếch Thái Lan: nuôi từ cỡ ếch giống 3-5g/con, sau một tháng có thể đạt từ 50-70g/con, 2,5-3 tháng ếch đạt từ 150-300g/con lúc này có thể bán ếch thương phẩm.

4. Sinh sản:

Ếch sau khi đạt 10-12 tháng tuổi thì có thể tham gia sinh sản. Mùa vụ sinh sản của ếch bắt đầu từ tháng chạp đến tháng 9 âm lịch. Ếch đẻ rộ vào mùa xuân, những đêm mưa rào, ếch đực dùng tiếng kêu để tìm bạn tình, ếch đực kêu to vang vọng là nhờ có hai túi kêu mỏng thông với xoang miệng như hai chiếc loa thùng khuếch đại âm thanh. Còn ếch cái chỉ kêu nhỏ nhẹ và rời rạc.

Sức sinh sản của ếch: 20.000-30.000 trứng/1kg ếch cái.

II. SẢN XUẤT GIỐNG:

1. Nuôi vỗ ếch bố mẹ:

1.1. Nơi nuôi vỗ:

Ta có thể tận dụng diện tích trống trong vườn để làm bể nuôi vỗ ếch bố mẹ.

– Diện tích: 4-6m2.

– Nơi nuôi vỗ phải yên tĩnh, gần nguồn nước sạch.

– Thiết kế bể nuôi giống như bể nuôi ếch thịt.

1.2. Phân biệt đực cái:

– Ếch đực : Có 2 màng kêu (2 chấm đen) ở hàm dưới, hai bên hầu, gọi là túi âm thanh. Bàn chân trước nhám hơn, ngón chân trước có mấu thịt hoá sừng (chai sinh dục), da ếch đực màu xám, không trơn bóng như ếch cái, cùng tuổi, ếch đực nhỏ hơn ếch cái, ếch đực càng già, màng kêu càng to, tiếng kêu càng dõng dạc vang xa.

– Ếch cái : Không có đặc điểm như ếch đực, đến mùa sinh sản thì ếch cái bụng to, mềm hơn ếch đực.

1.3. Chọn ếch bố mẹ:

– Chọn những con ếch khỏe mạnh, đạt từ 10-12 tháng tuổi.

– Mật độ nuôi: 3 – 5 con/m2.

– Trong quá trình nuôi vỗ nên nuôi ếch đực và cái riêng, thời gian nuôi tối thiểu 1 tháng trước khi cho đẻ.

1.4. Chăm sóc và quản lý:

– Trong quá trình nuôi vỗ nên tăng tỷ lệ đạm động vật trong khẩu phần thức ăn, ngoài giun, giòi, cua, ốc, trong thức ăn chế biến có 30% thịt cá và 70% bột ngũ cốc.

– Khâu chăm sóc và quản lý giống như nuôi ếch thịt.

– Thường xuyên kiểm tra độ thành thục của ếch để tiến hành cho sinh sản.

2. Cho ếch sinh sản:

– Bể đẻ phải bố trí ở nơi yên tĩnh, điều kiện cấp thoát nước thuận tiện.

– Diện tích từ 10-15m2, tùy điều kiện nông hộ mà diện tích có thể thay đổi cho phù hợp.

– Mức nước sâu 20-25cm.

– Tỉ lệ đực:cái: 1:1.

– Mật độ thả: 3-5 cặp/m2.

– Trước khi đẻ ếch đực kêu báo hiệu gọi ếch cái và sau trận mưa rào ếch thường đẻ vào gần sáng.

– Khi ếch đẻ phải giữ thật yên tĩnh để đàn ếch đẻ trong thời gian dài.

– Nếu không có mưa ta tiến hành kích thích bằng cách tạo mưa nhân tạo hay kích nước.

– Để cho ếch đẻ đồng loạt ta có thể sử dụng kích dục tố để kích thích. Thuốc kích thích thường dùng là HCG, tiêm với liều lượng 1 lọ/3kg ếch cái.

– Khi ếch đẻ xong ta có thể bắt ếch bố mẹ ra tiếp tục nuôi vỗ.

– Trứng thụ tinh tốt có cực động vật rõ rệt (màu đen), trứng không có cực động vật là trứng ung (hư).

– Tỷ lệ thụ tinh 70-80%.

* Chú ý nếu đưa trứng đi nơi khác ấp không được lật ngược mảng trứng, cực động vật phải hướng về phía trên.

3. Ương ếch giống:

Trứng sau khi đẻ 24 giờ thì nở thành nòng nọc. Sau 48 giờ nòng nọc bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Vào lúc này ta nên bổ sung trứng nước làm thức ăn cho ếch với lượng 100-200g/10.000 nòng nọc.

Sau 3 ngày: cho nòng nọc ăn trùng chỉ, cá tạp xay nhuyễn, thức ăn công nghiệp dạng bột cho ăn với lượng 15-30% trọng lượng.

Sau 21-25 ngày nòng nọc bắt đầu rụng đuôi thành ếch con. Giai đoạn này cho ếch ăn thức ăn công nghiệp với lượng 10-15% trọng lượng.

Sau 45 ngày ương ếch đạt kích cỡ 5-6g/con ta có thể bán giống hoặc chuyển sang nuôi thương phẩm.

Trong suốt quá trình ương nên thường xuyên thay nước, vệ sinh bể ương 2 ngày/lần, định kỳ trộn thêm vitamin, men tiêu hóa cho ếch.

III. NUÔI ẾCH THỊT: (trong bể xi măng hay trong bể lót bạt)

1. Xây dựng bể nuôi:

Có thể tận dụng đất dư thừa trong vườn làm bể hoặc chuồng heo đã bỏ nuôi để nuôi ếch.

– Bể nuôi ếch có diện tích trung bình 6-10m2, tường cao 1,2-1,5m, có lưới đậy để tránh ếch nhảy ra, hạn chế ánh nắng trực tiếp và làm tăng nhiệt độ. Đồng thời, tránh kẻ thù gây hại như: rắn, mèo, chuột, chim…

– Đáy bể nên làm hơi nghiêng để dễ thay nước.

Chú ý, bể nuôi ếch không nên che mát hoàn toàn. Trong bể nuôi nên làm những ụ đất hoặc phao (bè) nổi trên mặt nước đủ cho tất cả ếch trong bể có thể trú ngụ.

– Mực nước trong bể nuôi 20-25cm. Nên thường xuyên phun nước tưới cho ếch, nhất là vào lúc trưa nắng.

2. Chọn giống và mật độ thả nuôi:

Ếch cạnh tranh thức ăn rất cao dẫn đến phân đàn mạnh và ăn thịt lẫn nhau. Nên chọn đàn ếch cùng ngày tuổi và cùng kích thước, khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, không bị xây xát, dị tật và thả với mật độ hợp lý là hết sức quan trọng và quyết định năng suất sau này.

– Ếch giống cỡ 5-6g/con, đảm bảo chất lượng và quen ăn thức ăn viên.

– Ếch 5-70g/con: thả 150-200 con/m2.

– Ếch 70-150g/con: thả 100-150con/m2.

– Ếch 150g/con trở lên: thả 80-100 con/m2.

– Trước khi thả giống nên tắm ếch bằng nước muối 3% trong 15 phút.

2.3. Thức ăn và cách cho ăn:

Hiện nay thức ăn sử dụng nuôi ếch hoàn toàn là thức ăn công nghiêp loại dành cho cá giống, cá da trơn, cá rô phi: có hàm lượng đạm từ 22-40%.

Thức ăn được rãi đều khắp bể nuôi, tránh cho ăn tập trung một chổ ếch giành thức ăn sẽ cắn nhau.

Cho ếch ăn nhiều lần trong ngày.

Ếch ăn mạnh vào lúc chiều tối và đêm nên ban ngày cho ếch ăn ít, tập trung thức ăn vào tối và đêm cho ếch. Định kỳ bổ sung thêm vitamin C, men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khỏe hạn chế dịch bệnh và tiêu hóa tốt thức ăn.

Ngoài ra cũng cần phải lựa chọn khích cỡ thức ăn và hàm lương đạm cho phù hợp với sự phát triển của ếch.

Bảng cho ăn theo kích cỡ ếch nuôi

Trọng lượng (g/con) Kích cỡ TĂ (mm) Hàm lượng đạm (%) Số lần cho ăn/ngày Lượng thức ăn (%trọng lương thân)
5 – 30 2 – 2,5 35% 3 – 4 7 – 10
30 – 100 3,0 – 4,0 30% 5 – 7
100 – 150 5,0 – 6,0 25% 2 – 3
> 150 8,0 – 10 22% 3 – 5

2.4. Chăm sóc quản lý:

Thường xuyên san thưa và phân cỡ đàn ếchđể tránh trường hợp con lớn ăn con nhỏ.

Hằng ngày theo dõi mọi hoạt động của ếch: Mức ăn, tốc độ lớn, tình hình bệnh để kịp thời xử lý khi có tình huống xảy ra.

Định kỳ hàng ngày thay nước, vệ sinh bể nuôi.

Thường xuyên trộn men tiêu hóa + vitamin giúp ếch tăng sức đề kháng và phòng bệnh đường ruột.

Có thể định kỳ 7 ngày dùng Iodine để tắm ếch với liều lượng 1ml/1m3 nước (ngâm qua đêm).

2.5. Thu hoạch và vận chuyển:

Sau khi thả giống nuôi được 2,5-3 tháng ếch đạt 150-300g/con (ếch Thái) thì có thể tiến hành thu hoạch bán ếch thịt.

– Cho ếch ngừng ăn trước khi thu hoạch 10-12 giờ.

– Tháo cạn nước trong bể nuôi rồi dùng vợt xúc hoặc thu bằng tay.

– Dùng hộp xốp có lỗ thông hơi và bèo tây hoặc dùng túi nilông có nước để vận chuyển ếch.

Vợt xúc, các dụng cụ dùng để chứa đựng ếch phải nhẵn, hạn chế bị sây sát.

IV.  MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ:

1. Phòng bệnh:

Dịch bệnh xuất hiện trong điều kiện nuôi khi: môi trường nuôi bị nhiễm bẩn, tồn tại tác nhân gây bệnh và ếch nuôi bị suy dinh dưỡng. Thức ăn không đầy đủ ếch thường cắn nhau rất dễ bị bệnh ngoài da, sau đó nhiễm trùng. Khi ếch bị nhiễm bệnh thì việc điều trị hết sức khó khăn, do đó việc thực hiện triệt để các biện pháp phòng bệnh là rất cần thiết.

– Chọn giống khỏe mạnh, đồng đều kích cỡ.

– Thường xuyên san thưa và phân cỡ: tạo đàn ếch đồng đều về kích cỡ.

– Không nuôi với mật độ quá dày.

– Thức ăn phải đảm bảo đầy đủ chất lượng.

– Định kỳ bổ sung vitamin + men tiêu hóa giúp tăng sức đề kháng của ếch nuôi.

– Thay nước và vệ sinh bể nuôi hàng ngày.

2. Một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị:

Hiện nay trong qua trình nuôi, ếch thường bị hao hụt là do một số nguyên nhân sau:

3.2.1. Hiện tượng ăn nhau:

Nguyên nhân: nuôi mật độ cao, thức ăn không đủ, kích cỡ nuôi không đồng đều. Phòng chống: mật độ nuôi vừa phải. Thức ăn phải đủ chất lượng, cho ăn đều khắp bể. Thường xuyên lọc và phân cỡ bể nuôi khi ếch nhỏ dưới 50g.

2.2. Bệnh lở loét đỏ chân:

Triệu chứng bệnh: Ếch giảm ăn, di chuyển chậm, có những nốt đỏ trên thân, chân bị sưng và dấu hiệu rõ nhất là gốc đùi có tụ huyết. Giải phẩu nội tạng, thấy xuất huyết trong ổ bụng.

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila phát triển khi môi trường nuôi dơ và khi ếch bị sốc.

Phòng bệnh: Thường xuyên thay nước, giữ môi trường nuôi sạch sẽ.

Chữa trị: điều trị kịp thời khi bệnh mới phát sẽ có tác dụng tốt. Ngâm ếch trong dung dịch Iodine (PVP Iodine 350: 5 – 10 ml/1m3 nước). Dùng Oxytetracycline (3 – 5g/kg thức ăn).

2.3. Bệnh về đường tiêu hóa:

Triệu chứng bệnh: Bụng ếch trương phồng lên, ếch nằm yên một chổ. Một số con có hậu môn lồi ra, ruột bị sưng lên. Trong ruột có dịch lỏng có lẫn một ít thức ăn.

Nguyên nhân, do ếch ăn thức ăn ôi thiu hay cho ếch ăn quá nhiều, ếch không tiêu hóa được, nguồn nước nuôi dơ do ít thay nước.

Phòng bệnh: Định kỳ trộn men tiêu hóa vào thức ăn của ếch. Thay nước thường xuyên và giữ nước nuôi sạch.

Chữa trị: Giảm lượng thức ăn xuống còn 50%. Làm vệ sinh thật kỹ môi trường nuôi. Trộn vào thức ăn Sulphadimezine và trimethroprim (4 – 5g/kg thức ăn). Sử dụng liên tục 5 ngày.

2.4. Bệnh mù mắt, cổ quẹo:

Triệu chứng: Mắt bị viêm sưng. Mắt đục và mù cả hai mắt. Biến dạng cột sống và cổ quẹo, ếch thường xuyên quay cuồng và chết. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng có tài liệu cho là do vi khuẩn Pseudomonas sp.

Chữa trị: Cách ly những con có triệu chứng bệnh. Ngâm ếch bằng Iodine với liều lượng 3-5 ml/m3 nước. Trộn thuốc cho ếch ăn: 100g NOROCINE/500-700kg ếch. Xử lý và trộn thuốc liên tục trong 5 ngày.